Ngày còn bé, tôi sống với mẹ ở quê. Nhà làm ruộng, lại neo người vì bố làm việc ngoài Hà Nội nên công việc đồng áng khá là vất vả. Tháng 6. Vừa phải tranh thủ gặt lúa vụ chiêm xuân, xong lại nhanh chóng gieo mạ để cấy cho vụ mùa. Tháng 6. Mùa hè. Nắng nóng nhất trong năm. Nắng chói chang. Nắng xối xả. Như thể ông trời nghiêng cả chảo lửa đổ xuống trần gian vậy. Chả thế mà thần đồng Trần Đăng Khoa nức tiếng một thời đã có bài thơ “Hạt gạo làng ta” được in trong sách giáo khoa :
“…Hạt gạo làng ta
Những trưa tháng sáu. 
Nước như ai nấu. 
Chết cả cá cờ.
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy…”

Để tránh cái nắng nóng cháy thịt cháy da của tháng 6, mẹ con tôi phải dậy từ 3h sáng, gánh mạ đi ra đồng. Ruộng ở cách xa nhà 5-6 cây số, không có xe nên toàn phải gồng gánh, đi bộ. Con bé con là tôi, da đen nhẻm, tóc khét mùi nắng, bị đánh thức dậy sớm quá cứ mắt nhắm mắt mở, bước thấp bước cao bám vào một bên quang gánh của mẹ, bước đi thập thõm. Vừa đi vừa ngủ gật.

Ra đến ruộng, làn gió lành buổi sớm mai phả vào mặt mát lạnh, tỉnh cả ngủ. Cỏ hai bên đường ướt đẫm sương đêm. Thỉnh thoảng lại có vài con chuột đồng chạy qua đường chiu chíu. Bé con giật mình, túm chặt rổ mạ, trĩu một bên vai mẹ.
Bình minh. Hừng đông ửng đỏ phía chân trời xa xa. Những tia nắng non nớt cố luồn qua những cục mây bông để vươn mình tỏa sáng, báo hiệu một ngày hè nắng rát. Bầu trời lúc đó như một bức tranh 3D khổng lồ, trừu tượng và kỳ vĩ…

Cặm cụi tranh thủ cấy đến khoảng 7h sáng là đã thấy đói bụng. Cúi nhiều mỏi hết cả lưng. 3 mẹ con lên bờ rửa tay ngồi nghỉ. Dậy sớm quá nên chưa kịp ăn sáng, phải đi làm luôn tranh thủ trời mát. Thời đó ở quê không có nhiều đồ ăn như bây giờ. Nhà chỉ có sẵn thóc, gạo, ngô, khoai, sắn…Ngô, khoai, sắn..chỉ ăn chơi cho vui chứ không thể thay cho bữa chính là cơm, trừ cái đận đói kém. Mẹ phải thức khuya từ đêm hôm trước để nắm cơm và giã muối vừng, để nguội, sáng hôm sau mang đi làm đồng sớm.

Làm cơm nắm cũng không có gì quá cầu kỳ. Nhưng phải chú ý chọn gạo không dẻo quá mà cũng không cứng quá. Nấu hơi ướt một chút, cơm chín tới một cái là phải xúc ra nắm luôn. Mẹ giặt một cái khăn thật sạch, để hơi ẩm cho cơm đỡ dính khăn. Như bây giờ thì người ta sẽ lót một lớp ni lon bên trong khăn để nắm. Xới cơm vào khăn, túm chặt lại và bắt đầu nắm. Nhồi, nặn, nắm đều các mặt, các góc. Xoay đi, lật lại nắm cơm đến khi nào nắm cơm trở thành một khối đồng nhất, trắng tinh là được. Mẹ bảo tôi ngồi quạt cho cơm nhanh bay hơi, kẻo cơm đọng lại mồ hôi sẽ dễ bị nhão, bị thiu.

Tôi cũng đòi mẹ cho tập nắm. Mẹ chiều lòng cho tôi thử. Cơm nóng quá, tay trẻ con lại nhỏ, lực nắm yếu nên cái nắm cơm của tôi nó bé bé, vừa lòng bàn tay đứa trẻ, còn nguyên các hạt cơm dính vào nhau gọi là “nắm chim chim” chứ chẳng ra hình thù nắm cơm như của mẹ. Nhưng cơ mà tôi lấy làm sung sướng lắm. Đặt cẩn thận vào giỏ cơm, háo hức chờ đến ngày mai đi cấy được ăn cơm nắm do chính tay mình làm.

Nắm cơm hoặc là tròn cỡ bằng cái bát ăn cơm, ấn hơi dẹt ra. Hoặc là nặn, lăn thành đòn dài, để thật nguội, sau đó gói vào tờ giấy trắng tinh, sạch sẽ để không bị khô mặt cơm bên ngoài.

Cơm nắm thường ăn với muối vừng cho đậm đà mà lại đủ chất. Gọi là muối vừng nhưng có cả vừng và lạc. Lạc nhân, loại bỏ những hạt mốc, hỏng, đem rang chín vàng. Ủ cho giòn, để nguội. Chà xát và sàng sảy cho sạch hết vỏ, cho vào cối giã dập. Nhớ là giã dập chứ không giã quá nhỏ để khi ăn, nhai cái mẩu lạc vụn ấy nó béo béo, bùi bùi. Vừng hạt xát vỏ sẵn, đãi sạch, phơi khô, cho vào chảo nóng rang đều tay, nhỏ lửa. Khi nào nghe thấy hạt vừng nhảy lách tách trong chảo và có mùi thơm là phải tắt bếp đổ vừng vào cối ngay kẻo cháy. Khác với lạc, vừng lại cần giã thật nhỏ. Muối hạt rang khô, giã mịn. Trộn cả vừng lẫn lạc vào muối theo một tỉ lệ muối vừa phải, vừa ăn. Muối vừng lạc để nguội, cho vào lọ thủy tinh, đậy kín, ăn dần trong 1 tuần vẫn được.

Mẹ trải một tấm nilon ra bờ cỏ, lót một tàu lá chuối xanh mướt đã được lau sạch. Đặt gói cơm nắm trắng ngần lên trên. Vừa mở gói muối vừng ra, mùi thơm đã xộc vào mũi. Mẹ dùng dao cắt nắm cơm thành từng miếng con chì vừa ăn, xếp đều tăm tắp. Cầm miếng cơm trắng nõn nà, chấm nhẹ vào gói muối vừng nâu nâu màu đất, cho vào miệng khẽ cắn một miếng. Ôi chao! Cũng là cơm được nấu từ gạo tẻ như mọi ngày, như mọi bữa thôi mà sao hôm nay ăn ngon chi lạ! Cái miếng cơm mát lạnh như miếng thạch giữa mùa hè, chấm với muối vừng lạc thơm lừng, bùi bùi, ngầy ngậy dầu bơ thực vật, béo mà không ngấy ngán. Cái vị mặn mòi của muối biển đậm đà và đưa cơm biết bao! Đều là ngọc thực của trời, đều là sản vật chắt chiu từ đất, từ những giọt mồ hôi bạc vai gầy áo mẹ. Gạo – cơm, vừng – lạc, giản dị, chân chất mà sao ngọt bùi, ấm dạ đến thế. Ăn no bụng mà vẫn không chán. Chẳng có loại thực phẩm nào lại lành như cơm nắm muối vừng của mẹ. Chẳng có mâm cơm nào đẹp bằng mâm cơm giản dị, cơm nắm trắng tinh, muối vừng nâu nâu trên nền lá chuối xanh biêng biếc. Cũng chẳng có cái nhà hàng, khách sạn hay resort nào lại có một không gian để ăn rộng lớn và bao la đến nhường kia, giữa mênh mông cánh đồng bát ngát, gió thổi vi vu vi vút, đất trời như hòa vào làm một. Và khi ăn xong lại nhấp thêm ngụm trà xanh hay nước vối mẹ ủ tù sáng sớm, cảm thấy sao quá đỗi an lành và bình yên…

Sau này, lớn lên, tôi ra Hà Nội học và sinh sống, ít khi được ăn cơm nắm muối vừng. Bỗng chợt một buổi trưa lang thang Hà Nội, nhìn thấy 1 gánh hàng rong bán cơm nắm muối vừng, chợt thèm nắm cơm của mẹ da diết. Ghé xuống ăn một nắm cơm nhỏ xinh với 1 dúm muối vừng nâu nâu màu đất phù sa sông Đáy quê tôi, có thể thêm ít ruốc làm từ thịt thăn lợn nếu thích. Chỉ 5000 – 7000 đ thôi là đủ ấm bụng rồi.

Cơm nắm không phải là đặc sản truyền thống của Hà Nội, lại càng không phải là đặc sản của nông thôn. Cơm nắm muối vừng chỉ là một món ăn bình dị, dân dã nhất được các bà, các mẹ, các chị cất công gồng gánh từ các vùng quê lên Hà Nội để bán. Có một làng ở Hưng Yên chuyên làm và bán cơm nắm. Đó là làng Ngọc, xã Lạc Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên. Các gánh cơm có mặt trên nhiều con phố: Thái Hà, Chùa Bộc, Nguyễn Chí Thanh…Chỉ đơn giản là một gánh cơm ngồi ở vỉa hè, dưới tán cây xanh mát, thêm thắt bánh dày giò hoặc bánh giò nóng cho phong phú và phục vụ được nhiều đối tượng thực khách hơn. Khách ăn chủ yếu là nhân viên công sở, nhân viên bán hàng cho các shop, học sinh, sinh viên và cả những người bán hàng rong nữa. Bởi cơm nắm muối vừng rất rẻ, rất dễ ăn mà lại an toàn vệ sinh thực phẩm…

Những người con nông thôn, khi lớn lên, trưởng thành, thoát li khỏi lũy tre làng, xa rời vòng tay của mẹ, dẫu có đi 5 châu 4 bể, có cơ hội thưởng thức đủ mọi thứ sơn hào hải vị đắt tiền. Bỗng một hôm nào đó lại nhớ cồn cào nắm cơm trắng chấm muối vừng lạc, lại thèm được sà vào lòng mẹ mà hít hà hương đất nồng nàn chân quê, thèm một bữa được ngồi giữa bao la đất ấy, trời ấy, đồng ấy, ruộng ấy, ăn bữa cơm nắm muối vừng với mẹ, của mẹ…Cho tôi xin một vé trở về tuổi thơ.
..
(Viết tặng Mẹ nhân ngày sinh nhật, dù mẹ chẳng bao giờ biết trên đời này lại có cái gọi là Facebook)

Hà Nội 10/10/2016
-PHỐ HOA-
(Sống để Yêu Thương)
 
Chia sẻ bài này